|
|
|
Chương 14:
|
|
|
"Hỗn hợp tôn giáo" thường dùng để chỉ về một hôn nhân mà hai người khác tôn giáo, tỉ như Công Giáo và Do Thái Giáo, hay hai người là Kitô Hữu nhưng khác giáo phái, tỉ như Công Giáo và Tin Lành. Tuy nhiên, cũng nên để ý là những gì được đề cập đến trong "hỗn hợp tôn giáo" cũng thường được áp dụng cho những người cùng tôn giáo. Thí dụ, Mai là người Công Giáo thường xuyên tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật và có ý định gia nhập ca đoàn cùng với Dũng sau khi họ kết hôn. Dũng là người Công Giáo muốn dùng những ngày cuối tuần để đi săn và đi câu, và thường chỉ tham dự Thánh Lễ vào dịp lễ Giáng Sinh hay Phục Sinh mà thôi. Họ cũng phải đối phó với vấn đề "hỗn hợp tôn giáo." Thật đúng để nhận định là mọi tôn giáo đều phải cố gắng giải quyết vấn đề hôn nhân "hỗn hợp tôn giáo". Những truyền thống tín ngưỡng xưa nhất và khắt khe nhất tuyệt đối cấm các tín hữu kết hôn với người "ngoài" tôn giáo. Sự cấm đoán như vậy dựa trên một kinh nghiệm, đó là sự khác biệt tôn giáo tạo nên những trở ngại có ảnh hưởng tiêu cực đến hôn nhân. Thí dụ, một người Công Giáo lấy người Do Thái Giáo, gia đình của họ không bao giờ có thể tham dự đầy đủ vào bất cứ truyền thống tín ngưỡng nào; và con cái của họ thường bị kẹt ở giữa cuộc tranh dành "không còn thiêng liêng" khi được dụ dỗ chấp nhận những tín điều này hoặc tín điều kia, bởi thế chúng ở vào một vị thế xa cách với cha hay với mẹ. Nếu đôi nam nữ quyết định kết hôn, bất kể sự khuyến cáo, hôn nhân của họ chỉ được cho phép nếu người "ngoài" tôn giáo sẵn sàng "trở lại" và trở nên một phần tử của tôn giáo. Nếu họ không muốn "trở lại" thì họ buộc phải chấp nhận giáo dục và nuôi dưỡng con cái trong đức tin của người kia. Ðây là lập trường của Giáo Hội Công Giáo mãi cho đến thời Công Ðồng Vatican II vào thập niên 1960. Trong những năm gần đây, nhiều tôn giáo đã thiết lập những chính sách khoan dung mới có quan điểm tích cực hơn về hôn nhân hỗn hợp tôn giáo. Trong Công Ðồng Vatican II, Giáo Hội Công Giáo đã quyết định những chính sách có lẽ khoan dung và uyển chuyển nhất đối với hôn nhân hỗn hợp tôn giáo. Ngày nay, Giáo Hội Công Giáo không đòi buộc sự "trở lại" của người không-Công Giáo, cũng như người không-Công Giáo không buộc phải đóng vai trò tích cực trong việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái trong đức tin Công Giáo, nếu điều đó tạo nên bất cứ vi phạm nào với lương tâm của họ. Tuy vậy, nhiều cha sở kinh nghiệm thường thận trọng và ngay cả can ngăn đôi nam nữ bước vào một hôn nhân hỗn hợp tôn giáo. Tại sao? Ðiểm #1. Tôn giáo dễ có thể không-là-vấn-đề, cho đến khi có con cái.Thật vậy các đôi nam nữ chuẩn bị hôn nhân rất ít để ý đến vấn đề "tôn giáo". Dù tôi là Công Giáo, Tin Lành hay vô thần cũng không có gì khác biệt nếu tôi ít tham dự vào việc thờ phượng chung và ít lưu tâm đến những giáo huấn của giáo hội của tôi. Tương tự như thế, nhiều người sống với chính sách "không bao giờ thảo luận về chính trị hoặc tôn giáo," nhiều đôi nam nữ tin tưởng chính sách này sẽ tiến hành tốt đẹp trong hôn nhân. Họ cho là nếu không bàn về vấn đề tôn giáo, họ sẽ tránh được sự tranh luận về những khác biệt mà họ không thể giải quyết. Tuy nhiên, với lối giải quyết này sự khó khăn sẽ xảy ra khi họ có con cái, họ sẽ phải đối phó với hàng loạt vấn đề mà họ đã muốn tránh: Có rửa tội cho con chúng ta hay không? Lúc nào? Với tôn giáo nào? Tại sao tôn giáo nào cũng được? Sẽ dạy bảo con cái về tôn giáo nào? Ai là người có quyền và trách nhiệm để quyết định những điều này khi chúng tôi có hai tôn giáo khác biệt? Ðây là lý do cha sở khuyến khích đôi nam nữ bàn luận về vấn đề rửa tội của đứa con tương lai ngay trong thời gian chuẩn bị hôn nhân. Không may, vào thời điểm này, những câu hỏi như thế vẫn chỉ có tính cách lý thuyết, tương tự như bàn thảo về vấn đề: "Giả như trong tuần trăng mật, người yêu của bạn bị tai nạn xe hơi và bị bất toại thì bạn có tiếp tục yêu thương và trung thành với họ suốt đời không?" Thật khó để thực sự bàn thảo về một vấn đề mà bạn không muốn nghĩ là nó sẽ xảy ra. Hầu hết những đôi nam nữ chuẩn bị hôn nhân không thể chú tâm đến những khó khăn có thật khi phải quyết định về cách trao truyền đức tin cho con cái, ngay cả khi cha sở cố vạch ra cho họ thấy những khó khăn. Ðiểm #2. Hãy suy nghĩ câu hỏi: "Tôn giáo thực sự có ý nghĩa gì đối với tôi?"Ðối với một số người, "tôn giáo" là kết quả của lời thề hứa có ảnh hưởng đến suốt cuộc đời người trưởng thành; đối với những người khác, "tôn giáo" chỉ là phần thừa kế-như là người Việt hay người Ðức-nhưng không ăn nhập gì đến lối cư xử hàng ngày. Nếu tôi là người Công Giáo từ khi mới sinh, nhưng tôi không tích cực sống đạo từ khi lên đại học và xa nhà, thì có thể hữu ích hơn khi thú nhận rằng Công Giáo là phần di sản của tôi, nhưng không ảnh hưởng đến lối sống của tôi. Thí dụ, tôi biết Ðiều Răn "Không được nói dối," nhưng khi tôi chú ý đến cách kiếm tiền thì thật khó để nghĩ rằng sự lương thiện là vấn đề đức tin quan trọng. Tôi có thể tránh hành động bất hợp pháp vì sợ hậu quả của luật pháp. Tuy nhiên, không bao giờ hoặc rất ít khi tôi nghĩ về trách nhiệm phải sống những giá trị của Chúa Giêsu nơi thương trường. Tôi là người Công Giáo "thừa kế" hơn là "trưởng thành." Trong hôn nhân, có lẽ tôi giải quyết vấn đề tôn giáo bằng cách để người yêu làm bất cứ gì họ muốn, một khi tôi không bị đòi hỏi phải tham dự hay hứa hẹn gì với quyết định đó. Có lẽ tôi đóng vai trò rất thụ động trong việc dạy dỗ đức tin con cái. Ðể thấy sự tương phản, nếu tôi là người Công Giáo "trưởng thành", tôi sẽ luôn cố gắng tự hỏi mình về những điều, tỉ như, "Có thể nó hợp pháp, nhưng nó có đúng không?" Một ngày làm việc của tôi sẽ bao gồm những suy tư như "Chúa Giêsu sẽ đối phó thế nào với người này hay trong trường hợp này?" Khi ở nhà, tôi sẽ để ý đến phẩm chất của sự tương giao với người yêu và con cái, và tôi sẽ đóng vai trò tích cực để biết chắc là con cái tôi sẽ có cơ hội chia sẻ ơn sủng đức tin Công Giáo của tôi. Ðể làm sáng tỏ thêm ý nghĩa "tôn giáo" đối với tôi, cũng thật quan trọng để hiểu ý nghĩa tôn giáo đối với người yêu và nó ảnh hưởng thế nào đối với hôn nhân của chúng tôi. Sau đây là ba phối hợp có thể xảy ra: Phối Hợp 1. Cả hai chúng tôi là Kitô Hữu "thừa kế". Một người là Công Giáo bẩm sinh và người kia là Tin Lành bẩm sinh, nhưng không ai trong chúng tôi cảm thấy đi nhà thờ là quan trọng để trở nên người tốt. Chúng tôi nghĩ con cái chúng tôi sẽ tự chọn tôn giáo cho chúng khi chúng lớn lên. Hoặc có lẽ chúng tôi sẽ quyết định về vấn đề rửa tội sau khi sinh con, và tùy theo việc có tìm ra nhà thờ nào hay không thì chúng tôi sẽ rửa tội cho con trong nghi thức "Kitô giáo" hơn là bất cứ tôn giáo nào khác. Chúng tôi tin rằng "là người Kitô" không đòi hỏi phải là phần tử trong một giáo xứ. Chúng tôi đâu có vấn đề gì! Phối Hợp 2. Cả hai chúng tôi là Kitô Hữu "trưởng thành." Một người là Công Giáo, người kia là Tin Lành. Chúng tôi yêu nhau say đắm, và thề hứa sống hôn nhân Kitô giáo và nuôi dưỡng con cái như những người Kitô. Vì yêu nhau, chúng tôi cố gắng để hiểu biết và tôn trọng tôn giáo của nhau. Tuy nhiên, vấn đề rửa tội cho con và vấn đề giáo dục con cái thường là đề tài khó cho chúng tôi đương đầu. Càng yêu nhau bao nhiêu, chúng tôi càng thành thực tin rằng "sự trở lại" đạo của người kia là điều mà cả hai không thể chấp nhận được. Tôi muốn nuôi nấng con cái theo đức tin Công Giáo; vợ tôi lại muốn nuôi nấng con cái theo Tin Lành. Trong khi cả hai chúng tôi đều tin là trở nên người Kitô thì quan trọng hơn vấn đề Công Giáo hay Tin Lành, nhưng chúng tôi cũng tin là người Kitô thì phải tham gia vào cộng đồng đức tin, là giáo xứ. Cả hai chúng tôi đều tin là mỗi người đều có quyền và trách nhiệm để trao truyền cho con cái niềm tin tôn giáo đặc biệt mà chúng tôi đã thề hứa. Bởi thế, chúng tôi có vấn đề! Phối Hợp 3. Chúng tôi ở giữa hai trường hợp trên. Một trong hai chúng tôi có lẽ gần với sự "trưởng thành" hơn người kia. Chúng tôi có nhiều thắc mắc hơn câu trả lời khi phải đương đầu với vấn đề rửa tội cho con và không rõ sẽ nuôi nấng con cái theo đức tin nào. Hiện thời chúng tôi thỉnh thoảng mới đến nhà thờ, và cũng không rõ giáo xứ nào chúng tôi sẽ tham gia trong tương lai. Chúng tôi không rõ phải suy nghĩ thế nào về vấn đề này. Chúng tôi cũng không rõ đó có phải là vấn đề hay không. Ðiểm #3. Một vài đề nghị để đối phó với vấn đề.1. Học cách "đối thoại". Ðó là, học cách chia sẻ và hiểu biết những khác biệt về quan điểm hay đức tin mà không đòi hỏi người kia thay đổi lập trường. Học cách thảo luận về sự quan trọng của đức tin và giáo huấn trong đạo mà những điều ấy có thể rất khác biệt, tỉ như, sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, sự tha tội, ý nghĩa của Thánh Lễ, sự phá thai, hình phạt tử hình, chiến tranh, vấn đề thờ phượng ngày Chúa Nhật, việc rửa tội con cái, thảo luận về những điều này thì cũng quan trọng như bàn về cách quản lý tiền bạc và cách dạy dỗ con cái. Ðiều bạn thực sự tin tưởng về những vấn đề chính yếu (có thể giống hay không giống với giáo lý của tôn giáo của bạn) sẽ có ảnh hưởng thực tế đến hôn nhân. Ngay cả khi hai bạn cùng tôn giáo, ít có những "câu trả lời đơn giản" cho những thắc mắc mà bạn thực sự tin là quan trọng trong khi chia sẻ. Khi hai bạn khác tôn giáo vấn đề lại phức tạp hơn. Bạn có thể thấy mình là người Công Giáo tuyệt đối chống hình phạt tử hình, và người yêu là Tin Lành đồng ý với hình phạt tử hình. Biết cách đối thoại là khả năng chính yếu để giải quyết vấn đề. Khi bạn thực sự yêu ai, bạn thường bị thôi thúc để biết cách tôn trọng niềm tin và quan điểm của người đó và tránh bị cám dỗ để nghĩ rằng họ là người phải thay đổi. Mối "đe dọa" thực tế trong cuộc đối thoại là tôi có thể thấy đức tin và quan điểm của người kia thì trung thực với Phúc Âm của Chúa Giêsu hơn là của chính tôi! 2. Học cách sống với sự đối thoại liên tục. Có được "câu trả lời" thì không quan trọng bằng biết cách tiếp tục nêu lên và đối phó với "những thắc mắc" sẽ xảy ra trong tương lai. Cũng như tiếp tục học hỏi và thăng tiến như một cá nhân và như hai vợ chồng thế nào thì đức tin và giá trị của bạn cũng tiếp tục gia tăng như vậy. Bất cứ điều gì bạn chọn thi hành ngày hôm nay có lẽ không "phù hợp" với những gì xảy ra trong tương lai. Thí dụ, hôm nay bạn có thể thấy cách hay nhất để đối phó với vấn đề dạy giáo lý cho con cái là gửi chúng đến trường Công Giáo. Nhưng rất có thể vào lúc con bạn đi học, bạn lại thấy sự phối hợp giữa trường công và "dạy giáo lý ở nhà" là cách tốt nhất để uốn nắn con cái thành người Kitô thích hợp, sẵn sàng để sống Phúc Âm trong cuộc đời. 3. Tìm kiếm những nguồn trợ lực. Hãy nhận ra những người mà bạn sẽ phải chạy đến với họ khi cần biết thêm ý kiến. Tiềm năng tốt nhất có lẽ là những giáo sĩ hay giáo dân đứng đắn mà bạn ngày càng tin tưởng để được hướng dẫn về vấn đề đức tin và khi phải quyết định về cách nuôi nấng con cái. Nếu một người là Công Giáo, người kia là Tin Lành thì thật khôn ngoan để bạn có liên lạc với cả hai người, một linh mục Công Giáo và một mục sư Tin Lành, là những người sẵn sàng giúp bạn và gia đình. Tìm kiếm những người giúp đỡ cũng quan trọng như tìm kiếm bác sĩ hay luật sư. Cũng như một số chuyên gia rất giúp ích cho một vài loại người, chứ không phải tất cả mọi người, thì bạn cũng phải khôn ngoan tìm kiếm những "chuyên gia" về tôn giáo mà bạn cảm thấy tin tưởng và an tâm. 4. Thành thật với chính mình. Khả năng duyệt xét kỹ lưỡng thế giới nội tâm của bạn một cách thành thật sẽ giúp bạn biết cách sống với những khác biệt của người khác. Nhiều người dễ uyển chuyển hơn một số người khác. Nếu tôi khôn ngoan thú nhận là tôi không thể sống với một vài khác biệt nào đó mà tôi nhận thấy nơi người khác, thì có thể là quan trọng hơn để thú nhận và bàn thảo kỹ lưỡng ngay tự bây giờ (trước khi kết hôn) là có nên kết hôn hay không. "Tình yêu thì mù quáng", và chúng ta có thể bị thu hút lẫn nhau bất kể những khác biệt quan trọng. Một hôn nhân Kitô Giáo sẽ kéo dài liên tục qua "lúc thịnh vượng cũng như lúc gian nan" phải được xây đắp trên nhiều điều khác chứ không chỉ có "yêu đương." Sự "hợp nhất" là sức mạnh của hôn nhân Kitô Giáo được kết tạo bởi sự chính trực cá biệt của hai người. Mỗi người phải sống "thành thật với chính mình" trước khi họ có thể sống trong một tương giao yêu thương tốt đẹp với người khác. 5. Học biết những thay đổi về quyền lợi và trách nhiệm của một tín đồ. Giả sử bạn và người yêu chín chắn quyết định bước vào một hôn nhân hỗn hợp tôn giáo, thật quan trọng để hai bạn hiểu biết về quyền lợi và trách nhiệm của hai bạn theo tôn giáo khác biệt của mỗi người. Hãy thận trọng về những quy tắc và luật lệ mà bạn biết về hôn nhân hỗn hợp tôn giáo. Có nhiều thay đổi đáng kể trong ba mươi năm qua. Sau đây là những đề tài mà bạn cần tìm hiểu thêm: - Sự tự do để được kết hôn trong Giáo Hội. Nếu một hay cả hai bạn đã từng kết hôn, ngay cả đó là một hôn nhân dân sự, thì có thể nó ảnh hưởng quan trọng đến sự tự do để được kết hôn trong Giáo Hội Công Giáo, và phải được thận trọng xem xét bởi những người có khả năng giải thích giáo luật Công Giáo. Giáo luật đã được duyệt xét lại một cách đáng kể vào năm 1983, và không phải bất cứ linh mục nào cũng chuyên môn về lãnh vực này trong giáo luật. - Vấn đề "trở lại" và rửa tội con cái. Giáo Hội Công Giáo không còn trông đợi người không-Công Giáo "trở lại" đạo Công Giáo. Và Giáo Hội cũng không đòi hỏi người không-Công Giáo phải hứa nuôi nấng con cái theo đức tin Công Giáo. Ðường hướng mới là phải biết chắc người vợ/chồng Công Giáo phải có ý định thành thật và "với tất cả khả năng" của mình để trao truyền đức tin Công Giáo cho con cái bằng cách "rửa tội chúng trong Giáo Hội Công Giáo." Như vậy, lập trường chính thức của Giáo Hội Công Giáo là tôn trọng lương tâm của người không-Công Giáo, và--đồng thời-mong đợi đôi vợ chồng bàn thảo kỹ lưỡng với nhau về những dự định tương lai đối với con cái. Một số vợ chồng nghĩ họ có thể tránh xung đột bằng cách cho phép con cái lựa chọn tôn giáo của chúng. Nhưng dạy dỗ con cái về tôn giáo thì như một nghệ thuật, nó là vấn đề hiểu biết cá biệt, và chủ quan. Con cái lớn lên trong phương cách này thường thiếu sự liên hệ chắc chắn với Thiên Chúa mà sự liên hệ này là một yếu tố quân bình trong đời sống. Việc đôi vợ chồng có đồng ý hay không để người vợ/chồng Công Giáo lãnh trách nhiệm hoàn toàn trong việc trao truyền đức tin Công Giáo cho con cái sẽ ảnh hưởng đến cách giải quyết của cha sở. Mục đích của Giáo Hội Công Giáo ở đây thì không quyết định dùm cho đôi tân hôn, nhưng đúng hơn để giúp đỡ đôi tân hôn đi đến một quyết định mà nó "thích hợp" với lương tâm mỗi người và cũng phù hợp với truyền thống là biết chắc rằng con cái họ sẽ được giáo dục như một Kitô hữu. Người vợ/chồng Công Giáo được trông đợi là sẽ nuôi dưỡng con cái thành người Công Giáo với "tất cả khả năng" của mình. Tuy nhiên, Giáo Hội biết sẽ có trường hợp sự cương quyết nuôi dưỡng con cái thành người Công Giáo làm nguy hại đến hôn nhân. Bởi thế, dù thật buồn khi thấy người vợ/chồng Công Giáo không thể nuôi dưỡng con cái thành người Công Giáo, nhưng còn đau thương hơn nếu sự cương quyết này tạo nên sự rạn nứt mà nó sẽ tiêu hủy hôn nhân. - Quyết định nhà thờ nơi cử hành lễ cưới. Giáo Hội Công Giáo không còn giới hạn người Công Giáo muốn kết hôn với người khác tôn giáo phải cử hành lễ cưới trong nhà thờ Công Giáo. Khi người Công Giáo kết hôn với người không-Công Giáo, họ có thể xin vị giám mục Công Giáo cho phép làm đám cưới tại đền thờ của người không-Công Giáo, hay ngay cả tại một nơi "trung lập" (không ở nhà thờ hay đền thờ). Trong những trường hợp này, họ cũng nên xin vị giám mục uỷ thác thẩm quyền chứng hôn cho viên chức dân sự hay người tư tế không-Công Giáo. Thông thường một người Công Giáo phải kết hôn "trước một linh mục hay thầy sáu", sự đòi hỏi này đã được đặt sang một bên, tuy nhiên hôn lễ vẫn có cùng tình trạng như được chứng kiến bởi một linh mục. Sự thay đổi này trong giáo luật nhằm giúp đôi tân hôn đang chuẩn bị hôn nhân hỗn hợp tôn giáo hiểu là Giáo Hội cố gắng thích nghi với họ những gì có thể trong giới hạn của giáo luật. - Lễ cưới. Ðiều này tùy thuộc sự lựa chọn nơi cử hành lễ cưới. Nếu đám cưới sẽ cử hành trong một nhà thờ Tin Lành thì vị mục sư sẽ hướng dẫn đôi tân hôn qua những nghi thức hôn nhân của Tin Lành. Nếu đám cưới sẽ được cử hành trong một nhà thờ Công Giáo thì vị linh mục sẽ hướng dẫn đôi tân hôn qua những nghi thức hôn nhân của Công Giáo. Ðôi tân hôn cũng phải quyết định xem có nên cử hành đám cưới với Thánh Lễ và có Chịu Lễ hay không. Giáo luật tôn trọng quyền của người vợ/chồng Công Giáo về việc rước lễ trong lễ cưới, do đó, Giáo Hội cho phép cử hành Thánh Lễ hôn phối trong một hôn nhân hỗn hợp tôn giáo. Câu Hỏi Ðể Suy Tư & Ðối Thoại Chương 14:
|
|
Mọi Trích Dịch Xin Ghi Rõ Xuất Xứ |
|